1 Giới thiệu chung
Tên sản phẩm:
EPortal (Enterprise Portal)
Giới thiệu chung:
Từ Portal (cổng) vốn là một thuật ngữ kiến trúc, chỉ lối vào một tòa nhà lớn. Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Portal cũng có ý nghĩa tương tự. Có thể coi đó là cổng vào một kho thông tin lớn, đa dạng. Qua Portal, những đối tượng người dùng khác nhau có thể truy cập đến nhiều loại thông tin khác nhau nhưng theo một cách thức thống nhất.
Hiện nay có khá nhiều loại Portal: Portal công cộng, Portal riêng của công ty hoặc tổ chức, Portal chuyên ngành... và gần đây còn xuất hiện các siêu Portal là Portal dẫn đến các Portal mức dưới. Portal công cộng khác với các Portal chuyên ngành thường tập trung vào một lĩnh vực hẹp nhưng sâu hơn, thông tin do một Portal công cộng cung cấp bao trùm nhiều lĩnh vực, hoặc nhiều chủ đề trong một lĩnh vực lớn như kinh tế, khoa học, công nghệ, y học, thể thao, âm nhạc... Portal tích hợp thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau. Ví dụ một Portal ở tầm quốc gia phải tích hợp thông tin từ Trung ương và các Bộ, ngành, địa phương. Portal của một thành phố phải tích hợp được thông tin từ các quận, huyện và các sở, ban, ngành.
Portal phục vụ cho nhiều lớp đối tượng sử dụng với các nhu cầu thông tin khác nhau. Ví dụ một Portal của thành phố phải cung cấp thông tin về thủ tục hành chính cho những người dân thường, thông tin dự án cho các nhà đầu tư, thông tin về bản đồ, thắng cảnh cho khách du lịch... Mọi đối tượng sử dụng đều có thể tìm kiếm và khai thác kho thông tin đa dạng này một cách dễ dàng qua một giao diện thống nhất mà không cần biết thông tin nằm ở đâu, do ai quản lý. Ví dụ, người dân phải tìm thấy và sử dụng được ngay dịch vụ hành chính mà họ cần, chứ không cần quan tâm đến những cấp chính quyền nào, những cơ quan nào liên quan đến các thủ tục hành chính đó.
Một trong các đặc trưng nổi bật phân biệt Portal với một website thông thường là khả năng người dùng giao tiếp trực tuyến, hai chiều để khai thác các dịch vụ công.
Tóm lại, Portal được xây dựng để đáp ứng nhiều hơn sự bùng nổ thông tin trên webiste. Nó giải quyết được các hạn chế cơ bản của website truyền thống như khả năng tích hợp thông tin, tính khả mở và cá nhân hóa.
2 Tính năng sản phẩm
• “Siêu website”, hay Portal, đối với người dùng vẫn chỉ là sử dụng trang web thông qua trình duyệt (tức là web browser), nhưng đằng sau đó là sự thay đổi thuật ngữ và quan niệm mới về triết lý phục vụ thay cho cách hiểu “tuyên truyền” thông qua website như trước đây.
• Là điểm đích qui tụ. Hầu hết các thông tin và dịch vụ cho người sử dụng cần, là điểm đích đến thực sự. Thông tin và dịch vụ được phân loại nhằm thuận tiện cho tìm kiếm và hạn chế vùi lấp các thông tin.
• Bảo toàn đầu tư lâu dài. Có nền tảng công nghệ đảm bảo, do công nghệ Internet đã phát triển rất cao so với thời kỳ xuất hiện World Wide Web vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Những công nghệ tạo nên thời đại Portal đều hỗ trợ tính mở và kế thừa rất mạnh, sao cho việc mở rộng các qui mô phục vụ bằng các phần mềm ứng dụng mới được “lắp ráp” vào Portal đang có, mà không phải hủy bỏ hoặc sửa chữa lớn như những website trước đây. Đặc tính này làm cho portal “cởi mở” hơn với các ứng dụng của nhiều nhà cung cấp dịch vụ phần mềm khác nhau, thậm chí làm tăng tính độc lập của người chủ quản portal với người cung cấp giải pháp portal ban đầu, sau khi đã làm chủ công nghệ quản lý và phát triển ứng dụng trên portal.
• Môi trường chủ động dùng cho việc tích hợp ứng dụng
• Môi trường tích hợp. Nếu chúng ta đã quen với khái niệm mạng Internet và mạng intranet, tương ứng là mạng toàn cầu và mạng “toàn cầu” nội bộ (hiểu theo nghĩa “intranet” có các công nghệ và giao thức giống hệt Internet nhưng được sử dụng trong một phạm vi nhất định cho nội bộ), thì Portal chính là extranet do kiến trúc công nghệ qui định, nghĩa là nó bao gồm cả chức năng một “site” trên Internet và một intranet cho nội bộ. Một Portal đương nhiên có hai mặt phục vụ là “phía ngoài” hướng đến Internet, và “phía trong” hướng đến phục vụ người dùng nội bộ. Phía ngoài, Portal cung cấp một cổng giao dịch thân thiện, đủ các chức năng cho người dùng, trong đó có chức năng cá nhân hóa. Phía trong, Portal cung cấp một hạ tầng điện tử, nhằm tạo quyền chủ động trong việc cung cấp, tích hợp thông tin và liên kết với các hệ thống, các dịch vụ thông tin khác. Người dùng nội bộ hay người dùng qua mạng Internet đều phải được quản lý, họ có các vai trò sử dụng khác nhau, nhưng có môi trường giống nhau qua trình duyệt web.
Tuy khái niệm “phía trong” và “phía ngoài” là rất tương đối, chúng cũng cho thấy các mảng ứng dụng tương ứng với các nhu cầu quản lý hành chính và dịch vụ công nói chung. Đối với các chức năng “phía trong”, Poral làm cho các giao dịch quản lý hành chính mang tính chất nội bộ sẽ không đi vòng ra Internet rồi mới trở lại bàn làm việc của một đồng nghiệp trong cùng một phòng, hoặc giữa các Vụ bên trong trụ sở của một Bộ. Trong khi đó, một công chức cũng có thể tra cứu hoặc vận hành một dịch vụ qua Internet tại bất kỳ lúc nào và tại bất cứ đâu. Đối với các chức năng “phía ngoài”, người duyệt web có thể tra cứu và sử dụng dịch vụ theo quyền hạn được cấp. Do vậy Portal rõ ràng là mô hình phù hợp cho các hệ thống thông tin phục vụ cả quản lý điều hành và dịch vụ công. Khi so sánh với website thông thường, dù được xây dựng bằng chương trình ứng dụng web, website chủ yếu làm tốt về các chức năng “phía ngoài”, mà không giải quyết được các chức năng “phía trong”, nhất là khi các giao tiếp bên trong tăng lên qua việc tích hợp các ứng dụng mới.
• Cung cấp môi trường cộng tác (collaborative) thông qua việc quản lý và khai thác thống nhất toàn diện các dịch vụ cơ bản như: Forum, Mail, Calendar, Task Management, Report Systems, Conferences, Discussion Groups, News Groups, v.v... Các dịch vụ này là một phần của kho tài nguyên dịch vụ trên Portal để người dùng lựa chọn. Việc quản lý người dùng được thực hiện một lần và thống nhất trên tất cả các ứng dụng dịch vụ của Portal.
• Tóm lại, triết lý của Portal là “siêu website” để phục vụ tốt hơn thông qua quan hệ bình đẳng và tình cảm gắn bó với “siêu website”, là định hướng phục vụ (user-centric), khác với sự phát triển tự nhiên của website truyền thống là định hướng trình bày thông tin (data-centric).
3 Tính ưu việt của sản phẩm
- Giao diện web
- Tích hợp được thông tin từ các nguồn dữ liệu bên ngoài, như từ các ứng dụng có sẵn hoặc các website khác dựa trên chuẩn trao đổi thông tin.
- Có công cụ tìm kiếm mạnh.
- Có thư mục phân loại.
- Có các tính năng quản trị nội dung (Contents Management) mạnh.
- Có khả năng tùy biến, cá nhân hoá cho từng người dùng hoặc từng lớp đối tượng người dùng.
- Khả năng quản lý và khai thác một khối lượng thông tin lớn từ hàng triệu đến hàng trăm triệu trang văn bản.
- Đối với các Portal lớn, phục vụ cho cả người nước ngoài thì tính năng đa ngữ là rất quan trọng.
- Đăng nhập một cửa (Single Sign- On).
4 Sử dụng
- Đăng ký truy nhập hệ thống (khai báo thông tin đơn vị và yêu cầu cho quản trị hệ thống).
- Đăng nhập hệ thống qua cửa khẩu tên sử dụng, mật khẩu.
- Quản lý tài khoản cá nhân (thay đổi các thông tin của đơn vị và mật khẩu truy nhập).
- Quản lý số liệu của đơn vị mình (các thao tác đọc, ghi, xoá, sửa, cập nhật).
- Trao đổi tin tức trực tiếp với bộ phận quản trị và các đơn vị khác qua diễn đàn trao đổi nghiệp vụ.
5 Danh sách khách hàng đã sử dụng
- Xây dựng website thẻ ATM ngân hàng An Bình
- Xây dựng webstie cho công ty tài chính Dầu khí, Tập đoàn dầu khí Việt Nam
- Xây dựng công thông tin Công ty vàng bạc đá quý Bảo tín Minh Châu
- Xây dựng trang thông tin cho trung tâm thẻ VIBank.
6 Dịch vụ kèm theo
Phát triển theo yêu cầu của khách hàng trên các lĩnh vực khác nhau: báo chí, du lịch, khách sạn, y tế…
7 Độ sẵn sàng: Sẵn sàng